Phân tích nỗi đau mất Người qua bài "viếng lăng Bác" của Viễn Phương

Trong niềm vui hân hoan chào mừng chiến thắng 30-4-1975. Mọi người chợt nhận ra một điều thiếu vắng không thể bù đắp được: không có Bác trong ngày vui lớn này.

Ôi, hơn ai hết lẽ ra phải có Bác trong ngày họp mặt hôm nay, ngày hội mà chính Bác là người chuẩn bị, mơ ước và dõi theo nó trong hơn nửa thế kỉ của cuộc đời mình.

Đau nhất là nhân dân Việt Nam, những người đã ước ao và đổ máu của mình cho mau chóng đến ngày gặp Bác.
Chính trong tâm trạng ấy mà nhà thơ Viễn Phương từ thành phố sài gòn, theo giải phóng, thành phố Hồ Chí Minh thân yêu ra thăm lăng Bác và trở về với bài thơ "viếng lăng Bác". Nỗi niềm của nhà thơ chân thành xúc động bắt gặp nỗi niềm của nhiều người.

Loading...

Viếng lăng Bác ư? Không, hình như đây là đến với Bác đến thăm Bác. Bác mất thật ư? không phải đâu, Bác đang sống, bác đang ngủ đó thôi mà. Tưởng như Bác đang nhìn thấy mọi người từ xa, nhà thơ thầm đặt tay lên ngực và tự giới thiệu với Bác:

Con ở miền nam ra thăm lăng Bác

"Con ở miền nam" mấy tiếng ấy bao hàm một nỗi đau, một niềm tự hào, con tự ở Miền Nam đây! Miền Nam gian khổ à anh hùng, miền nam đi trước về sau, miền nam thành đồng tổ quốc, miền Nam vừa chiến thắng kẻ thù hung bạo để trở về, miền nam với nỗi đau mất Bác, nỗi đau không đến từng bước chân Bác sau ngày đại thắng đây Bác ơi!
Trong làn sương mờ ảo của mùa thu Hà Nội, đến với Bác sao như trở lại một làng quê thành bình đến vậy.

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

Hàng tre bát ngát - hàng tre xanh xanh- hàng tre Việt Nam, hàng tre bao đời như một dấu hiệu đặc biệt Việt Nam, hàng tre trùm bóng mát lên bao thế hệ cuộc đời, hàng tre mang bao phẩn chất của con người Việt Nam: Dẻo dai, đoàn kết, bất khuất, kiên cường. 

Dấu hiệu đầu tiên ở nơi Bác là một dấy việ Việt Nam bởi Bác là đại diện cho con người Việt Nam. Ở Bác, chúng ta cảm nhận được tất cả vẻ đẹp tinh túy và sâu sa. Ôi! đến với Bác không phải là đi mà là trở về, trở về nguồn cội của chính mình, trở về với những ngày tháng thành bình nào đấy của dân tộc muôn đời, trở về với một giấc mơ nào đó mà tuổi xanh mình ấp ủ.

Sao trước lăng Bác không phải là đền đài tráng lệ, rực rỡ vàng son. Sống chân phương đứng mà lại chỉ là hàng tre xanh xanh giản dị và que thuộc đến như một giấc mơ vậy. Sự quen thuộc, giản dị khiến cho người ta phải ngỡ ngàng, phải xúc động đến trào dâng nước mắt. 
Trong dòng người chầm chậm bước đi, bầu trời cao lồng lộng, ánh sáng rực rỡ trên lăng, chân bước đi mà hồm ngẫm nghĩ: Bác là ai? Bác là gì trên cõi đời này?

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Bác là một mặt trời, mặt trời ở đây không biết đã đủ để nói về Bác chưa? Chưa đâu, nếu nói Bác là mặt trời thì phải nhấn mạnh thêm vầng mặt trời ấy "rất đỏ", cái mặt trời tỏa sáng trên cao kia, mặt trời của thiên nhên, tượng trưng của nguồn nóng, nguồn sáng, nguồn sự sống ấy không phải bao giờ cũng nguyên vẹn. Nhưng vầng mặt trời Bác Hồ của chúng ta thì mãi mãi đỏ thắm, mãi mãi là nguồn sưởi ấm, nguồn sáng soi đường cho con người Việt Nam, cho các thế hệ Việt Nam. 

Mỗi ngày của con người Việt Nam hôm nay có hai mặt trời chiếu rọi, mặt trời trên lăng và mặt trời trong lăng, mặt trời chiếu rọi trên đường đời, một mặt trời tỏa sáng tâm hồn. Như mặt trời kia, Bác thuộc về vĩnh cửu.

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dân bảy mươi chín mùa xuân

Nhịp thơ chầm chậm như bước chân người đi trong cuộc tưởng niệm mà câu thơ vẫn không buồn? phải rồi, chúng ta không làm cái việc tưởng niệm bình thường với Bác như với một người đã khuất. Dòng người đang đi đây là đang đi trong cuộc hành trình ngợi ca vinh quang của Bác.

Tràng hòa inh quang không phải là những tràng hoa được kết từ những bông hoa bình thường mà đây làm một tràng hoa bất tận, mỗi đóa hoa là hoa thật sự của đời, hoa- con ngời mà bác đã tạo nên trên đất nước này, trong cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân nhưng trường cửu của Bác. Từ bên ngoài đi vào trong lăng, ta cùng nhà thơ với những giây phút nghẹn ngào. Ta không còn nghĩ đến hàng tre hay vầng mặt trời hào quan nữa. lúc này, trước mặt ta chỉ có

Bác. Bác nằm trong giấc ngủ vĩnh hằng:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Viễn Phương sững sờ nhận ra nỗi đau lón, Bác mất thật rồi, nhưng Bác, con người vĩ đại giữa con người, không đang trong sự chết bình thường như ta vẫn nghĩ theo lẽ đời. Hình ảnh Bác chỉ ngủ sau trong một chặng đời với bảy mươi chín mùa xuân chưa hề được nghỉ ngơi. 

Mà cũng hình anahr như không phải Bác ngủ, Bác chỉ đang nằm trong giấc ngủ đó thôi. Canh cho sự bình yên của giấc ngủ ấy là một vầng trăng sáng dịu hiền.

Nhắc đến trăng,  ta thấy Bác yêu trăng biết bao, trăng đã từng đến với Bác giữa chốn tù lao, đến giữa "cảnh khuya" của núi rừng Việt Bắc. Nhưng có bao giờ, Bác được một lúc thảnh thơi để thực sự đến vùng trăng, bởi khi thì "trong tù không rượu cũng không hoa" khi thì "việc quân đang bận", khi thì "nhớ thương nhi đồng"... chỉ có bây giờ, trong giấc ngủ bình yên này thôi, Bác mới thực sự cùng trăng để trăng cùng Bác. Bác nằm trong đó, trong chiếc quan tài thủy tinh, ấy là sự thật một sự thật rất đớn đau, lòng ta tự an ủi bằng lẽ trường cửu ở đời nhưng tim ta lại có cái lí riêng của nó.

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim

Một từ "nhói" của ta nói hộ nỗi đau đớn, nỗi đau vượt lên mọi lí lẽ, mọi lập luận của lí trí. Bác như trời xanh, Bác là mãi mãi, Bác vẫn nằm trong tâm tưởng của chúng ta. Bác mãi hiện diện trên mỗi phần đất, dù cho có là niềm thương nhớ mòn mỏi, Viễn Phương cũng phải trở về vói miền Nam dấu yêu.

Mai về miền nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này

Một tiếng thương với niềm đau và xót xa khôn tả, Viễn Phương đi mà lòng người ấy ở lại. Ông không muốn rời xa Bác, không muốn chia lìa trươc cảnh chia tay bồi hồi xúc động, Viễn Phương muons xa rời nhưng sự thật vẫn là sự thật đau lòng, Viễn Phương vẫn phải quay trở về Nam Bộ. Đây cũng là nỗi niềm không chỉ của nhà thơ mà còn của tất cả những người đến thăm lăng.

Người ra đi nhưng tình còn đó, Bác ra đi nhưng vẫn còn lại với nhân dân, Viễn Phương ra đi nhưng tâm hồn vấng hưỡng về Bác. Viễn Phương nguyện làm con chim hót, nguyện làm một đóa hoa, một cây tre trung hiếu để thể hiện lòng thành kính đối với Bác.

Cùng với nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, điệp từ. Bài thơ thể hiện theo một trình tự không gian và thời gian, tạo sự gần gũi đới với Bác cũng như trong tự tưởng trình cảm và lí trí, với những từ nghĩ tinh tế, chọn lọc và được cộng hưởng bởi những tình cảm sâu sắc của Bác dành cho dân tộc Việt Nam nói chung và nhà thơ Viễn Phương nói riêng. Chúng ta phải luôn luôn kính trọng Bác - Người cha già vĩ đại của dân tộc. 

Đọc bài thơ ta còn cảm thấy Bác đáng kính, đáng trân trọng biết bao và để biết ơn Bác Hồ vĩ đại, chúng ta những thế hệ măng non của đất nước, những thế hệ kế tiếp bước cha anh hãy học thật giỏi, tu dưởng thật tốt để mai này có đủ tài đức, dựng xây đất nước để tiếp nối bước đường vinh quàn mà bác đã đặt ra.

"Viễng lăng Bác" là một bài thơ viết rất lâu sau khi chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, sang hàng nghìn bài thơ viết về nỗi đau mất Bác. Bài thơ đã thể hiện sự thành kính đến nghiêm trang đầy xúc động của nhà thơ nhằm tôn vinh một con

Người mà linh hồn như còn phảng phất nói đây trong sương, trong nắng. Đồng thời nó cũng làm nhiệm vụ hoàn tất bài thơ với niềm tiếc thương và kính yêu vô hạn.